Tình anh em một nhà qua ca dao Việt Nam

Trải qua bao thời đại, huyết thống ruột thịt trong gia đình và tình nghĩa keo sơn dân tộc đã làm phát triển và giữ gìn con người VN bảo tồn được căn tính của mình. Tức là từ gia đình, người con đã ý thức được nghĩa yêu thương anh em một nhà. Ngoài xã hội, người dân có bổn phận đùm bọc lẫn nhau.

Những bài học căn bản về tình nhân loại đã được tiền nhân truyền dạy qua ca dao, tục ngữ.

Nền luân lý cổ truyền lấy việc làm phúc, bố thí là quan trọng. Ai cũng muốn làm những việc lành để giúp đỡ người khác. Nhiều câu ca dao tục ngữ truyền miệng đã nói lên tinh thần tương trợ và khuyến khích nhau cứu trợ.

Tình keo sơn gắn bó
của người dân Việt Nam

Tại VN trước nay không có trợ cấp an ninh xã hội, nhưng một khi trong nước có thiên tai, cá nhân gặp ‘‘tai bay vạ gió’’ đều được những bàn tay nhân đạo, hưởng ứng lời kêu gọi tự đáy lòng, trợ cấp ngay. Đứng trước cảnh cùng khổ của người khác, ai chứ, người Việt không thể dửng dưng bỏ qua.
      - Thương người như thể thương thân
      - Thấy người hoạn nạn thì thương
      Thấy người cùng khổ lại càng thương hơn
      - Thấy ai đói rách thì thương
      Rét thường cho mặc, đói thường cho ăn.

Tại sao lại có sự thương cảm nhanh chóng như thế. Bởi vì chính bản thân đã có lần gặp hoạn nạn đói khổ, điêu đứng, sống cảnh ‘‘màn trời chiếu đất’’. Đúng là ‘‘Suy bụng ta ra bụng người’’.

Dù ở địa vị nào, giàu sang, nghèo nàn. Đứng trước đau khổ ngườI khác, mọi người đều có bổn phận cấp bách trợ giúp người kém may mắn :
      - Lá lành đùm lá rách
      - Một con ngựa đau cả tàu chê cỏ

Hơn nữa, với dẫn chứng rất cụ thể, cha ông đã kêu gọi dân chúng ra tay giúp những người gặp nạn.
      - Bầu ơi thương lấy bí cùng
      Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
      - Nhiễu điều phủ lấy giá gương
      Người trong một nước phải thương nhau cùng

Xã hội VN có giai cấp rõ rệt ‘‘Kẻ ăn không hết, người lần không ra’’. Làm sao san bằng hố sâu ngăn cách giàu nghèo này được ?
Ý nghĩa cao sâu qúi giá của trợ giúp ở chỗ là
      - Một miếng khi đói bằng một gói khi no.
      - Của ít lòng nhiều
      - Vi tình vì nghĩa, không ai vì đĩa xôi đầy.

Chính người mẹ dạy con cẩn thận khi con khôn lớn. Bài học đầu tiên trên đầu gối mẹ, lúc con bé nhỏ cũng như ra ngoài xã hội, sống va chạm với đời :
      Dù ăn dù đói cho tươi
      Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bài lo toan
      Phòng khi đóng góp việc làng
      Đồng tiền, bát gạo, lo toan cho chồng
      Trước là đắc nghĩa cùng chồng
      Sau là họ mạc cũng không chê cười
      Con ơi! Nhớ bấy nhiêu lời.

Huyết thống ruột thịt
Tình máu mủ anh em một nhà.

Không gì đánh động mạnh và hiệu quả bằng tình máu mủ ruột thịt anh em một nhà.
      - Giọt máu đào hơn ao nước lã.
      - Máu chảy ruột mềm
      - Ruột bỏ ra, da bọc lấy
      - Bé cậy cha, già cậy con
      - Chị ngã em nâng
      - Anh em như thể tay chân
      Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần
      - Anh em nào phải người ta
      Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân
      Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì
      Vì tình vì nghĩa không ai vì đĩa xôi đầy

      Một người làm quan cả họ được nhờ

Ngoài tình huyết thống gia đình, người Việt còn nặng tình xóm làng
      Cận thân như cận lân
      Xa anh em không bằng láng giềng gần

Chữ hiếu cũng nằm trong luân lý đạo làm con và đạo làm người :
      -Còn chút mẹ già, nuôi lấy cho anh
      Để anh buôn bán thông hành đường xa
      Liệu mà thờ mẹ kính cha
      Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười
      Mẹ già ở chốn lều tranh
      Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

Trọn đạo vợ chồng là yếu tố hạnh phúc
      Sang năm lúa tốt tiền nhiều
      Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng
      Đói no có thiếp có chàng
      Còn hơn đủng đỉnh giàu sang một mình.

Ảnh hưởng lâu dài cho tới ngày nay
Nhờ có tinh thần biết sống ‘‘lá lành đùm lá rách’’ hay ‘‘thấy người hoạn nạn thì thương’’ không phân biệt tốt xấu, mà những giai đoạn lịch sử gần đây của VN, tưởng là khó giải thoát. Thế mà ‘‘trời lại sáng’’, như : Nạn đói ất Dậu năm 1945, cuộc Di Cư vĩ đại năm 1954, tết Mậu Thân năm 1968, Mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị năm 1972, và biến cố đau thương 1975. Thế mới biết giá trị đạo lý và giáo dục của văn chương bình dân, là tuyệt vời.

Dưới đây là hai trường hợp với những biến cố mới xẩy ra. Chúng ta là những người chủ động hay chứng kiến. Thiết tưởng cần ghi lại để chứng minh :
Giáo Xứ VN đã mở chiến dịch giúp nạn nhân Sóng Thần tại Á Châu, vào 12-2004. Xin đọc lại báo cáo của ĐÔ Giám Đốc tại đại hội Mục Vụ,12-6-2005 : Chung lòng bác ái với xã hội Năm châu và GH hoàn vũ, giúp nạn nhân Sóng Thần tại Á Châu 26-12-2004, cộng đoàn chúng ta đã thể hiện chiến dịch gồm hai việc : mỗi người tùy tiện dâng thánh lễ hay giờ chầu Thánh Thể cầu cho nạn nhân. Kể từ Chúa nhật 8-1-2005, đến Chúa nhật 6-2-2005, mỗi gia đình quảng đại góp tièn giúp nạn nhân. Nhóm ‘Tài chánh giúp GH’’ đảm nhận công việc thu tiền. Kết quả được 8.600 euros. Và ngày 14-3-2005 đã chuyển nộp lên Secours Catholique. (Báo GXVN. 215. 7-2005, tr. 19).

Trận bão Katrina và Rita bên Hoa Kỳ, vào 9-2005, đã đánh động tình anh em của cộng đồng công giáo VN nơi xảy ra thiên tai. Sau khi trận bão cán quét, thì : Tại Houston, những địa điểm cứu trợ đã đầy đủ những thứ cần thiết. Ba giáo xứ VN : Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo VN do cha Vũ Thành làm chính xứ, Giáo xứ La Vang do cha Trịnh Thế Huy làm chính xứ, Giáo xứ La Vang, Giáo xứ Lộ Đức do cha Hoàng Văn Thiên làm chính xứ, và Dòng Đa Minh, do Sr Têrêsa Phạm Thị Hằng làm bề trên, cùng với nhiều nhà hảo tâm tân tình giùp đỡ. Các linh mục và Hội Đồng Mục Vụ lo cho các gia đình tị nạn có chổ ăn chỗ ở đầy đủ (VietCathlic, 2-9-2005).

Trong dịp này dòng Đa Minh cũng phải di tản, do Sr Têrêsa Phạm Thị Hằng làm bề trên. Nhà dòng đã đem theo 7 gia đình cùng chạy và hết bão lại đem họ về an toàn.
Ngày 2-5-2006, tại tòa Bạch Ốc, Tổng Thống G. Bush đã trao bằng tưởng thưởng cho Sr. Hằng về những công tác thiện nguyện trên.

Thi Mỹ Chương

TRANG CHU
PAROISSE VIETNAMIENNE
TIEN GIUP GIAO HOI
­­
CAC CONG DOAN VN TAI PHAP
WEBLINKS
VĂN HÓA