![]() |
![]() |
|
|
|
Ngày lễ ĐM Vô Nhiễm Nguyên Tội, Lễ Truyền Tin 8-12-2005, Tòa Thánh đã gửi đến giáo dân toàn thế giới Phép Lành ban ơn Toàn Xá, đánh dấu kỷ niệm 40 năm bế mạc Công Đồng Vatican II. Trong ngày này, ĐGH Benedicto cử hành lễ đễ kỷ niệm đơn sơ biến cố này (xin đọc tóm lược bài giảng, trong Lời Cha chung, tr. 4).
Năm 1985, từ 24.11 đến 8.12, ĐGH Gioan Phaolo II triêu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục ngoại lệ, về kỷ niệm 20 năm sau Công Đồng Vatican II. Ngày 8-12-1985 cũng là ngày kết thúc Công Đồng 20 năm trước. Sau khóa họp đã ban hành sắc thư Nuntius, liên hệ với khối ngoài công giáo. Nếu Công Đồng Vatican II nhằm đổi mới Giáo Hội, thì Thượng Hội Đồng Giám Mục đã ‘‘khích lệ thành phần dân Chúa hiểu biết nhiều hơn về giáo lý và áp dụng trung thành những tiêu chuẩn của Công Đồng’’.
Phái đoàn Giám Mục Việt Nam đã qua Roma tham dự, và hân hạnh phát biểu trong Công Đồng, gồm : ĐC Alexandre Marcou Thành, ĐC Jean Marie Mazé, ĐC André Jacques, ĐC Urrutia Thi, ĐC Lê Hữu Từ, ĐC Ngô Đình Thục, ĐC Nguyễn Văn Bình, ĐC Nguyễn Văn Hiền, ĐC Nguyễn Khắc Ngữ, ĐC Phạm Ngọc Chi, ĐC Hoàng Văn Đoàn, ĐC Nguyễn Văn Thiện, ĐC Trần Văn Thiện, ĐC Trương Cao Đại, và ĐC Nguyễn Kim Điền.
Các Giám Mục VN đã chụp chung hình với ĐGH Gioan XXIII kỷ niệm (18-11-1962) đăng bìa báo tháng này. Trong khi đó, tại Miền Bắc VN, bị bưng bít, không biết gì về Công Đồng, sau 1975, Miền Bắc mới hay và áp dụng nghi lễ phụng vụ mới.
Biến cố quan trọng
Công Vatican II là
biến cố không chỉ quan trọng cho Giáo Hội Công
Giáo mà cho cà thế giới. Là biến cố quan phòng và
cơ hội để Giáo Hội trực tiếp
chuẩn bị đi vào thiên kỷ thứ 3. Công
Đồng chú trọng tới mầu nhiệm Chúa Kitô và
Giáo Hội của Người, đồng thời
vươn mình ra thế giới, đáp ứng những
thay đổi của thế giới.
Sau Công
Đồng, ba triều đại Giáo Hoàng đã thực
thi đường hướng thay đổi bên trong và
ngoài Giáo Hội.
- Giáo triều
Phaolo VI là giáo triều Hiến Chế Tín Lý về Giáo
Hội "Ánh sáng muôn dân" với thông điệp
đầu tiên "Giáo Hội của Người".
Lần đầu tiên vị giáo hoàng ra khỏi Roma, công du
Thánh Địa (4-1-1964), đến Liên Hiệp Quốc và
Fatima.
- Giáo triều
Gioan Phaolo II là giáo triều của Hiến Chế Mục
Vụ với thông điệp đầu tiên
"Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần". Ngày ra
mắt trước công chúng, Ngài đã kêu gọi "Anh
em đừng sợ, hãy mở cửa đón Chúa Cứu
Thế" Trong 27 năm, ĐGH đã thực hiện
104 chuyến viếng thăm thế giới.
- Giáo triều
Benoit XVI là giáo triều của Hiến Chế Phụng
Vụ Thánh với thông điệp đầu tiên "Thiên
Chúa là tình yêu". Tiếp tục chương trình viếng
thăm của hai vị tiền nhiệm, dự JMJ tại
Đức (8-2005), thăm Balan (27-5-2006). Thăm mục
vụ trong Nước Ý.
Mục đích của Công Đồng
Các Công
Đồng trước như công đồng Trent
(1545-1563) đáp lại tổ chức Tin Lành. Xác
định một số điểm đức tin, và giáo
lý liên quan đến Phong trào Cải Cách, canh tân Giáo Hội
về nhiều điểm thực tế.
Công Đồng Vatican I (1869- 1870) đối phó với giáo huấn căn bản và cách mạng Pháp. Lên án thuyết duy lý, và tuyên bố tính bất khả ngộ của Giáo Hoàng. Công Đồng kết thúc sớm, đột ngột vì giáo phận Roma bị sát nhập vào vương quốc Ý.
Công Đồng Vatican II là sáng kiến độc đáo của ĐGH Gioan XXIII khi Ngài tham dự lễ bế mạc Tuần Lễ Hiệp Nhất (25-1-1959), tại đền thờ Thánh Phaolo ngoại Thành. Công Đồng mở ra không lên án mà vì nhu cầu cần thiết của Giáo Hội. Qua tông sắc Humanae Salutis, Ngài đã triệu tập Công Đồng Chung thứ 21, gọi là Công Đồng Vatican II.
Trong tuần lễ đầu, ĐGH đã tiếp các giám mục cùng ngôn ngữ, cùng miền hiểu biết ý kiến và cắt nghĩa cho họ biết ĐTC mong chờ gì ở Công Đồng. Ngài nói rất đơn sơ : Thỉnh thoảng phải lau chùi những bụi băm trên ngai thánh Phêrô, mở cửa sổ của Giáo Hội để cho khí trong lành lọt vào. Đó là vai trò của Công Đồng.
Còn mục tiêu, ĐGH cho biết Công Đồng theo đuổi hai mục tiêu : Thích ứng với thời đại và gần gũi với mọi người. ĐGH giải thích : Trưóc hết là Giáo Hội phải thích ứng với thời đại, từ định chế, đến lễ nghi, và cả đến điều hành. Không được bước chậm trước những biến chuyển của nhân loại. Tất cả dân chúa ở giữa mọi người, thuận hòa với láng giềng, thân ái với chung quanh trong tình huynh đệ. Những điều đó rất cần thiết cho sứ mệnh của Giáo Hội. Men phải trộn lẫn với bột.
Diễn tiến khóa họp
Chuẩn bị
hơn 3 năm, từ 7-1959 đến 11-1962. Tất cả
các tham dự viên đều được hỏi ý
kiến. Các Đại học Công Giáo được
thăm dò các vấn đề có thể đưa ra bàn
thảo ở Công Đồng. 12 ủy ban và 3 văn phòng làm việc không ngừng. Cộng
đồng kéo dài 3 năm. ĐGH Gioan XXIII khai mạc
11-10-1962. Ngài qua đời, ĐGH Phaolo VI tiếp tục và
bế mạc 8-12-1965.
- Kỳ họp
đầu tiên (khóa I ) : Từ 10-10
đến 8-12-1962
- Kỳ họp
thứ hai (khóa II và III) : Từ 29-9 đến 4-12-1963
- Kỳ họp
thứ ba (khóa IV và V) : Từ 14-9 đến 21-11-1964
- Kỳ họp
thứ tư (Khóa VI - X) : Từ 14-9 đến
8-12-1965.
Ngày 28-10-1965,
ĐGH Phaolo VI công bố 5 văn kiện, được
các nghị phụ chấp thuận :
- Sắc
lệnh Dominus Christus (Chúa Kitô) : Nhiệm Vụ Giám Mục
- Sắc
lệnh Perfectae Caritatis (Đức ái hoàn hảo) : Canh tân
thích nghi đời sống Dòng Tu.
- Sắc
lệnh Optatem Totius : Đào tạo linh mục
- Sắc
lệnh Gravissimum Educationis : vai trò rất quan trọng
về giáo dục, giáo dục Kitô giáo
- Sắc
lệnh Notrae Aetate (Thời đại chúng ta) : Liên lạc
của GH với các tôn giáo ngoài Kitô giáo.
Ngày 18-11-1965 công
bố hai văn kiện :
- Hiến
chế Dei Verbum (Lời Thiên Chúa) : Mạc khải
- Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem (Hoạt đông tông đồ) :
Tông đồ giáo dân
Ngày 7-12-1965 công
bố 4 văn kiện :
- Tuyên ngôn
Dignitatis Humanae (Phẩm giá con người) : về tự do
tôn giáo
- Sắc
lệnh Ad Gentes (Đến với muôn dân) : Truyền Giáo
- Sác lệnh
Presbyterorum Ordnis (Chức vụ linh mục) : Chức vụ
và đời sống linh mục
- Hiến
chế Gaudium et Spes (vui Mừng và Hy Vọng) : Mục
vụ Giáo Hội trong thế giới hôm nay.
Thành quả của Công Đồng
Với những
văn kiện trên, Công Đồng hoàn toàn có hướng
đi mới, với nhũng điểm chính yếu sau.
1. Cử hành
phụng vụ. Thánh Lễ đã được cử hành
bằng tiếng bản xứ thay vì tiếng Latinh.
Phần vụng vụ Lời Chúa dồi dào hơn, chia làm
3 chu kỳ A B C cho Chúa nhật. Giáo dân tham dự và chủ
động việc cử hành Thánh Lễ. Chủ tế
quay xuống cộng đồng dân Chúa. Cử hành
đồng tế, Rước lễ bằng tay.
2. Hiệp thông
hàng Giáo Phẩm. Nhiều cuộc họp Thượng
Hội Đồng Giám Mục thế giới và châu lục
được tổ chức. Các Hội Đồng Giám Mục
quốc gia trở thành chính yếu về mục vụ và
tộng đồ cho từng quốc gia. Và cũng
được tham vấn cho những vấn đề
chung của Giáo Hội.
3. Vai trò giáo dân.
Giáo dân tích cực đóng góp vào phụng vụ Thánh Lễ,
và điều hành Giáo xứ trong Hội Đồng Mục
Vụ. Chức Phó Tế Vĩnh Vễn được tái
lập. Giáo dân dấn thân và đóng góp nhiều về
mặt xã hội y tế và cả chính trị
4. Đại
kết Kitô giáo. Nhiều cuộc họp, và thăm viếng
giữa Giáo Hội Công Giáo và các tôn giáo khác, gây thân thiện,
giảm đi những căng thẳng, ngay cả hận
thù trước đây.
5. Đối
thoại liên tôn. Nhờ những nỗ lực của Giáo
Hội Công Giáo, các tôn giáo đã xích lại gần nhau.
Đặc biệt hội ngộ tôn giáo tại Assisi,
cầu cho hòa bình thế giới. Hội đồng Tòa
Thánh về.
Đối Thoại đã làm việc đem lại những giao hảo tốt và thân thiện với Ấn, Phật, Tin Lành, và Hồi giáo.
Những phản ứng và khủng hoảng
Từ những
thành quả trên, vì quá cởi mở, đổi mới, và
dễ dãi trong GH, nên đã có những phản ứng,
trở thành đòi hỏi, chẳng hạn :
1. Về
Phụng vụ : Thánh Lễ và nghi lễ phụng vụ
nghiêng về quảng diễn, kém nghiêm trang và linh thiêng. Và
muốn giữ truyền thống địa phương,
nhiều nơi biến các nghi thức rườm rà,
luộm thuộm.
2. Hàng giáo
phẩm các quốc gia, nhất là các nước lớn có
khuynh hướng tự trị, không muốn cái gì cũng trình về Tòa Thánh.
3. Từ dễ
dãi của Giáo Hội trong hôn nhân dị chủng và dị
tôn, giáo dân muốn sống ngoài hôn nhân, đồng tình
luyến ái và tự do ly dị, đòi phụ nữ
được làm linh mục, linh mục được có
vợ...
4. Trong lãnh
vực Đại Kết Kitô Giáo, càng ngày càng có nhiều tín
hữu công giáo đi sang các giáo phái mới, như ở Nam
Mỹ.
5. Về mặt
Đối thoại liên tôn, có khuynh hướng thiên về
phương pháp cầu nguyện của đông phương,
bỏ bê chiêm niệm tu đức truyền thống Kitô
giáo, chủ trương đạo nào cũng tốt, hòa
đồng tôn giáo...
Tại sao Công Đồng lại có những phản ứng bất lợi, đến nỗi gây khủng hoảng. Những phản ứng cởi mở và khủng hoảng này đã được hai vị tham dự và đóng góp tham luận trong các khóa họp là ĐGH Gioan Phaolo II và ĐGH Benoit XVI, nhận định :
ĐGH Gioan Phaolo II viết trong Tông Thư Tiến Tới Ngàn Năm Thứ
Ba, ban hành 10-11-1994 :
Ta có thể quả quyết Công
Đồng Vatican II là biến cố quan phòng của Thiên
Chúa. Nhờ đó Giáo Hội chuẩn bị khởi sự
tức khắc Đại Lễ Toàn Xá năm 2000. Thât
vậy, đây là công đồng như các công đồng
khác, và tuy vậy rất khác biệt. Một công
đồng qui về mầu nhiệm của Chúa Kitô và Giáo
Hội Ngài, và đồng thời mở ra với thế
giới. Sự mở ra đó là sự trả lời
của Phúc Âm cho sự tiến hóa thời cận
đại của thế giới, với tất cả
những đảo lộn mà thế kỷ 20 gánh chịu
trong hai thế chiến, trong kinh nghiệm của các
trại cải tạo và những cuộc tàn sát kinh hoàng.
Những gì đã xẩy ra cho thấy hơn bao giờ
hết thế giới cần thanh tẩy, cần sám
hối canh tân.
Công Đồng Vatican II thường được coi như bắt đầu một kỷ nguyên mới trong Giáo Hội. Điều này đúng, nhưng đồng thời nó cũng khó bỏ qua sự kiện là Công Đồng đã tỉa rất nhiều kinh nghiệm và suy tư của quá khứ vừa qua, nhất là từ di sản tinh thần do Đức Pio XII để lại. Trong lịch sử của GH, cái "cũ" và cái "mới" luôn luôn liên hệ chặt chẽ với nhau, và cái "cũ" được diễn đạt trọn vẹn nơi cái "mới". Điều này đã xẩy ra với Công Đồng chung.
Vatican II, cũng như với hoạt động của các vị Giáo Hoàng có liên hệ với Công Đồng, bắt đầu từ Đức Gioan XXIII, tiếp đến đến Đức Phaolo VI, Gioan Phaolo I và cho đến vi Giáo Hoàng đương kim.
Điều mà các vị Giáo Hoàng đã hoàn tất trong thời gian và từ thới gian Công Đồng, qua giáo huấn của các ngài cũng như qua hoạt động mục vụ, chắc chắn đã đóng góp một cách đáng kể vào việc sửa soạn cho một mùa xuân mới của sinh hoạt Kitô giáo, mùa xuân sẽ được tỏ hiện nhờ cuộc Đại Lễ Toàn Xá, nếu các Kitô hữu biết nối tiếp công việc của Chúa Thánh Thần. (số 18)
ĐGH
Đương Kim Benoit XVI khi còn là Hồng Y, Tổng
Trưởng Bộ Đức Tin, trong tác phẩm The
Ratzinger Report’’ xuất bản 1985, đã viết :
«Công Đồng
Vatican II, với những chính thức ban bố, văn
kiện chân thực của mình, không thể bị cho
rằng phải chịu trách nhiệm về biến cố
này, một cuộc biến chuyển. Trái lại, hoàn toàn
nghịch lại về cả phương diện văn
từ lẫn tinh thần của các Nghị Phụ tham
dự Công Đồng.
Tôi tin rằng tình trạng hiện nay mà chúng ta thấy xẩy ra trong 20 năm qua, không phải không do Công Đồng thực sự, mà bởi tình trạng bung tỏa của những lực lượng ngấm ngầm tranh cãi và xa lìa trong, và ngoài Giáo Hội, bởi việc đụng độ với cuộc cách mạng văn hóa tây phương.
Để bênh vực truyền thống thực sự của Giáo Hội ngày nay, có nghĩa là bênh vực Công Đồng này, chúng ta cũng có lỗi nữa nếu có những lúc chúng ta viện lý, dù khuynh hữu hay huynh tả cũng thế, coi Công Đồng chung Vatican II như một thứ ly khai và loại bỏ truyền thống. Trái lại, đó là sự liên tục không cho phép trở về quá khứ hay thừa thắng xông lên, cũng không được có những trông mong lầm lẫn hay tỏ ra bất nhẫn vô lý. Chúng ta cần trung thành với cái hôm nay của Giáo Hội, chứ không phải hôm qua hay ngày mai. Và cái hôm nay là những văn kiện của Công Đồng chung Vatican II, không cố thủ kẻo làm chúng bi cắn xé, cũng không độc đoán kẻo làm méo mó chúng đi.» (ttr. 30-31; 42-43)
Có Công Đồng Vatican III không ?
Khi còn là Hồng
Y, Bộ Trưởng Tín lý Đức Tin, ĐGH Benoit XVI
đã trả lời câu hỏi của ký giả Peter Seewald
: Có Công Đồng mới không ?
«Tôi thiết tưởng là không thể xẩy ra trong tương lai gần. Tôi kể cho ông một câu chuyện sau đây : Có lần vị hồng y Hồi Quốc Cordeiro thuật lại cho tôi câu chuyện sau đây : Một hôm tôi ngồi gần nhau trong một công nghị, có mặt hồng y Dopfner (Đức, 1913-1976), một trong 4 điều hợp viên công đồng Vatican II, có người lên tiếng: "Chà, thế nào cũng phải có Công Đồng Vatican III". Hồng y Dopfner hốt hoảng giơ cả hai tay lên : Nhưng không thể có bao lâu tôi còn sống’ (not in my lifetime). Như vậy, với hồng y Dopfner thì một công đồng cũng đã đủ rồi. Với quan điểm đó rõ ràng ngài muốn nói lên xác tín của ngài là phải chờ một thời gian dài mới thấy được kết quả của một Công Đồng.
Thực tế chứng tỏ Công Đồng là một biến cố gây đảo lộn lớn trong Giáo Hội, cần rất nhiều thời gian mới giải quyết xong các xáo trộn này. Còn lâu chúng ta mới thực hiện hết những điều của Công Đồng Vatican II, một công đồng Vatican III cũng không phải là giải pháp tốt để đạt đích này.
Để giải quyết những khúc mắc, ta có các cuộc họp đều đặn của Thượng Hội Đồng Giám Mục. Tôi nghĩ, đây là phương tiện thích hợp và thực tế hơn. Mỗi lần như thế, với trên dưới 200 giám mục đại diện năm châu, các ngài có thể phân tích tình hình và giải quyết mọi chuyện. Một công đồng chung, xét nguyên mặt tổ chức không thôi, đã là một chuyện khó giải quyết rồi. Có tới ba, bốn ngàn giám mục tham dự. Đó là một lượng khổng lồ, với số lượng này khó có thể trao đổi đúng nghĩa và đối thoại đích thực. Để soạn thảo được những hiến chế bổ ích, cần được chuẩn bị từ nội bộ. Công Đồng không phải là cái máy đột ngột sản xuất các quyết nghị đứng đắn, rồi mọi chuyện sau đó cứ thế mà tiến. Trái lại, Công Đồng chỉ có thể thu góp những gì đang sống động và sắp đặt lại thành nghị quyết. Như vậy cần nhẫn nại chờ đợi sự việc phát triển, nhẫn nại chờ thời gian để những cái sống động được dần dà hình thành, rồi sau đó mới nói tới một hình thức pháp lý để đúc kết những cái đó thành các quyết nghị.
Vì thế,
đừng coi Công Đồng như bất cứ một
loại thần dược nào. Trái lại, Công Đồng
thường tạo nên những khủng hoảng,
những khủng hoảng này dĩ nhiên có thể trở
thành những liều thuốc bổ ích. Hiện thời
chúng ta đang bận giải quyết công đồng
Vatican II.
Thi Chương