150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858-20O8)

Nhân dịp kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, người ta chú ý đến biết bao ơn lành mà Mẹ Maria đã ban cho bao người, nhất là cho các bệnh nhân. Nhưng có lẽ ít ai chú ý đến người đã được Đức Mẹ chọn làm kẻ đưa tin, làm sứ gia, kẻ phát ngôn chính thức cho lệnh truyền của Mẹ cho nhân loại : một cô bé nghèo hèn, thất học mang tên Bernadette SOUBIROUS.

Bernadette không những là sứ giả của Mẹ Maria, chuyển lệnh truyền của Mẹ cho hàng giáo sĩ, thực hiện lời Mẹ phán dạy trước hàng ngàn người tham dự... nhưng chính Bernadette đã sống lời truyền dạy đó, ăn năn đền tội, cầu cho kẻ có tội trở lại..., đã đưa lời truyền đó vào đời sống của chính mình khi ở gia đình và sau này vào dòng tu tại Nevers. Vì thế, đức Piô XII năm 1957 đã nói : « Tín thư của Mẹ Maria đi liền với đời sống và con người của Bernadette. Chị có sứ mạng truyền lại tín thư đó cho thế giới. Chị còn làm chứng cho Sự thật về những gì chị nói và thông lại cho chúng ta ».

Tâm giao
Ngày 18 tháng hai 1858, trong chuyến ra hang đá Mátxabiên cùng với bà Millet, và cô phụ tá của bà góa này, hai người đã đem theo giấy bút, để nhờ Bernadette xin Bà hiện ra ghi ước nguyện của mình vào. Vì bà Millet tưởng rằng Bà hiện ra là chị Trưởng Hội Con Đức Bà qua đời thánh thiện trước đo, nay hiện về nhờ bà xin lễ, vì bà là người đã nuôi nấng cô ta như con cái.

Nhưng : « Những gì ta muốn nói với con thì không cần gì phải ghi lên giấy ». Bà hiện ra đã không muốn tiếp xúc với Bernadette qua trung gian là giấy tờ, bút mực, vì Bà muốn có sự tâm giao, tin tưởng lẫn nhau, quý trọng nhau nên muốn có đàm thoại trực tiếp. Đó cũng là cách tỏ lòng quý mến Bernadette nữa. Dùng giấy bút là dùng trung gian để nói chuyện với nhau, trong trường hợp bất đắc dĩ, khi phải xa nhau, cách trở mà thôi.

Bernadette đã cảm thấy tấm lòng ưu ái của Bà, lòng mến thẳm sâu của trời cao, nên đã biểu lộ lòng cảm mến làm cho Bà thêm tin cậy và mạnh dạn «xin» Bernadette một ân huệ, biết rằng lời xin này sẽ được đáp trả : «Con có vui lòng đến đây trong vòng 15 ngày không ? ».

Bernadette cảm thấy lần đầu tiên có người đã gọi mình bằng danh từ âu yếm «em» hay «con» (vous) và « con có vui lòng ... » Từ trước đến giờ, sống cuộc đời nghèo hèn, thấp kém trong xã hội, em đã cảm nhận bao tủi nhục trước lòng dạ con ngươì trọng giàu khinh ngheò. Nay Bà từ trời cao đến, lại gọi mình một cách đầy kính cẩn, và đưa một lời xin, chứ không truyền lệnh hay áp đặt. Bà đến một cách hiền từ, nhẹ nhàng, kêu gọi và lôi cuốn bằng tình âu yếm, bằng sức mạnh tình thương, chứ không bằng bạo lực. Nhưng sự âu yếm lôi cuốn nhẹ nhàng lại quyết liệt làm cho Bernadette không thể đối kháng, không thể từ chối. Trái lại Bernadette bị hấp dẫn hơn bao giờ, đến nỗi về sau, khi đã hứa rồi, mà bị cấm không được phép ra hang đá thì Bernadette khổ cực ăn không ngon, ngủ không yên, vì đã nhận với Bà : «Dạ, con xin vâng, làm theo ý Bà »

Hai thế giới

Nhưng đáp trả lời « xin vâng », Bernadette không biết rằng rồi đây mình cũng sẽ đi lại con đường của Bà như khi Bà đã thưa lời «FIAT » cùng sứ thần Gabriel, là Bà sẽ đi vào con đường cứu chuộc... Cho nên Bà đã không ngần ngại cho Bernadette biết trước con đường «tử nạn» ấy : «Bà không hứa là con sẽ được sung sướng ở thế giới này, mà ở thế giới khác » (Je ne vous promets pas que vous serez heureuse en ce monde, mais dans l’autre »

Thế giới này (ce monde)là thế giới làm cho mình không hạnh phúc là thế giới của những người kiêu hãnh, của những người lấy sức mạnh áp đảo, lấy quyền lực trần gian làm vũ khí bóc lột, chà đạp, không tôn trọng nhân quyền, khinh chê kẻ bé nhỏ, khiêm tốn hay nghèo hèn. Trong thế giới đó, con ngươì không còn biết tôn trọng nhân phẩm hình ảnh con Thiên Chúa, cho nên không nhắm đem lại hạnh phúc cho anh em đồng loại. Sống cho mình trong sự lường gạt, dối trá để hưởng lợi trần gian !

Bernadette đã phải trải qua : Ông cò, ông biện lý hoàng gia, đập bàn đập ghế, hét to khi hỏi cung Bernadette, sau khi sai lính đi «tóm cổ » con nhỏ nhà quê về phòng cảnh sát : «Mày biết tao là ai không ? ta còn lớn hơn ông biện lý. Sau khi tra hỏi mày, ta còn có thể bắt mày và cả gia đình vào tù. Nếu mầy khai gian ! »

Trước lời dọa nạt hùng hổ vô cớ đó, bà mẹ Bernadette đứng nghe bên con, hốt hoảng, khóc lên thì Bernadette an ủi mẹ : Mẹ đừng khóc, chúng ta đâu có làm điều gì lỗi phạm đâu. Ông ta bỏ tù con, rồi ông ta phải thả con ra.

Lời nói đanh thép đầy lòng tin như thế làm ông cò, ông biện lý không biết nói Sao ! Ông cò còn nhiều manh mối khác như quan tòa của bọn độc tài, áp bức nạn nhân, khi cố tình chép sai lời khai. «Không phải thế, ông chép sai hết lời của tôi ».

Còn thế giới khác (l’autre monde) là thế giới của kẻ có tâm hồn khiêm tốn, tin cậy vào tình yêu Chúa, lấy lề luật Chúa làm kim châm đời sống, làm niềm an ủi dẫu khi gặp nghịch cảnh, đau khổ, tù đày, vì biết rằng Cha trên trời là đấng thánh thiện, nhân từ, không hề bỏ rơi con cái ngài. Đau khổ trần gian chỉ là con đường để về thế giới không còn nước mắt, chỉ có niềm hoan lạc, vì Thiên Chuá nhân ái đầy yêu thương là phần thưởng.

Vào Dòng, Bernadette cũng gặp phải sự ngộ nhận hiểu lầm bị Mẹ giám tập đới xử khắt khe với mình, thay vì phẫn nộ, phật lòng, kêu oan, thì Bernadette lại cho rằng đó là những dịp Chúa gởi đến để mình tập luyện nhân đức khiêm nhường, nhẫn nại chứ không lấy làm ghét bỏ tức bực. Có lần Bernadette đã nói với Bề trên khi Mẹ rầy la Bernadette hay có thói quen kéo cái voan đằng trước xuống một tí để che lấp mặt, Và khi bị quở trách không chịu ra Nhà khách vì các đấng bản quyền, hay các nhân vật quyền thế trong xã hội (nữ bá tước...) đến xin được gặp, thì Bernadette đã thưa : « Thưa mẹ, con còn nhiều kiêu ngaọ quá, con phải tập hãm dẹp bớt tính kiêu căng », trong khi chính Bernadette là người khiêm tốn nhất trong Dòng.

Khi được thư của gia đình báo tin thân sinh đã qua đời mà trước đó không thấy báo cho biết đau ốm, Bernadette đã đứng dựa lò sưởi của tu viện Nevers mà khóc, nhưng rồi Bernadette đã viết thư khuyên em :«Thôi em ạ, chúng ta đừng quá buồn, nhưng nên tuân theo ý Chúa. Ý Chúa luôn êm dịu mặc dầu giữa bao khổ đau ta gặp. Chúng ta hãy nghe tiếng ngài trong lòng chúng ta : « hãy can đảm, ta chặt đứt những sợi giây liên lạc thắm thiết nhất ở đời này ; nhưng ta lại nối kết ở trên trời... Thánh giá chỉ trao cho những kẻ ta chọn lựa ở dươi đất này là khổ đau, thì ở trên trời là hạnh phúc đích thực và vĩnh cữu »

Vì thế, dù được vui sướng kết hiệp với Chúa hay khi bị quở phạt đúng hay sai, Bernadette vẫn giữ được bình an trong tâm hồn. Bernadette đã đứng vào « thế giới khác » để được Chúa ban sự bình an tâm hồn !

Sắc chỉ tuyên dương

Cũng trong những nhận định trên mà sắc chỉ ngày 18 tháng mười một 1928 của Bộ Nghi Lễ Tòa thánh nói về « nhân đức anh hùng » của Bernadette Soubirous như sau : « Chúng ta thấy trước hết là em sinh ra trong một làng nghèo hèn miền núi, song thân đạo hạnh, thuộc hàng xã hội thấp kém, gặp ngay những khó khăn chật vật của cuộc sống nghèo nàn. Chính em dĩ nhiên cũng không thoát : vì thế trong những năm tháng của đời tuổi trẻ, em đã bị sức khỏe yếu kém. Dẫu vậy, khi sức khỏe trở lại, em đã không ngần ngại làm việc như giữ chiên cừu để giúp đỡ gia đình và giúp cha mẹ. »

Và nói về đời sống niên thiếu của em, sắc chỉ viết tiếp : «Tuy không được giáo dục trần gian nào, em đã tiến bộ rất nhiều về nhân đức tại gia vượt xa những cô gái đồng lứa và hoàn cảnh bởi lòng đạo đức vững mạnh và lòng nhiệt tâm học hỏi giáo lý, kinh ngày chúa nhật, kinh truyền tin, tin kính và các kinh kệ khác. Thật là hạnh phúc và hấp dẫn khi gặp em và nói chuyện với em : gương mặt, câu chuyện, tất cả những sự đó nói lên sự trong trắng của một tâm hồn ngây thơ, hoa quả của một sự đơn sơ và vô tội, và tất cả cái đó đặt trên sự khiêm tốn. Cho nên Thiên Chúa « đã chọn những gì yếu đuối để đánh đổ những kẻ hùng mạnh (ICor : 1 : 27), đã chọn cô bé nhỏ và nghèo nàn này, bị thế gian che lấp và không biết đến, để trở thành dụng cụ của Đấng toàn năng trong sự lạ lùng vô sánh được thực hiện tại Lộ Đức, và nêu lên một ánh sáng chói lòa vào giữa thế kỷ XIX »

Còn về câu chuyện hiện ra, sắc chỉ viết : « Quả thực, chính Bernadette, bởi ơn huệ đặc biệt của lòng Chúa nhân ái, đã được, vào năm 1858, thấy Đức Mẹ nhiều lần (18 lần ) : những phép lạ đã chứng thực tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm do đức Piô IX công bố bốn năm (1854) về trước. (...) Còn nhiều sự việc khác nữa mà chúng tôi không nói đến. Dẫu vậy sự việc này thì không thể bỏ qua được : khi Bernadette hỏi mãi tên của Bà là kẻ mà em luôn chiêm ngắm thì Mẹ Maria đã chấp tay trước ngực, ngước mắt lên trời và nói : «Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên Tội ». Và đó là ngày 25 tháng ba, Giáo hội mừng lễ truyền Tin, trong đó Giáo hội cũng mừng mầu nhiệm Nhập thể. Sự trùng hợp đó nói lên, một cách thích đáng cũng như hùng hồn, sợi giây liên kết chắt chẽ mầu nhiệm làm Mẹ của Maria và Vô Nhiễm Nguyên Tội »

Còn nói về đời sống tu đức của Bernadette (Marie Bernard ) thì Dòng Nevers đã ghi nhận : « ...Bernadette đã khấn Dòng và được đổi tên là nữ tu Marie Bernard. Trong thời gian sau đó, chị đã chu toàn một cách chu đáo các bổn phận Bề trên giao phó mà chị đã trở nên gương mẫu cho các nữ tu ở Nevers mà chị đã chung sống trong vòng 13 năm ».

Phan Hữu Lộc

TRANG CHU
PAROISSE VIETNAMIENNE
TIEN GIUP GIAO HOI
­­
CAC CONG DOAN VN TAI PHAP
WEBLINKS
GIÁO HỘI HOÀN VŨ